Tràng Giang – Một âm hưởng của thời đại | GDGKYT

Ra đời trong phong trào thơ mới, Tràng Giang là một trong những bài thơ mang tính biểu tượng nhất. Đặc điểm chính của Thơ Mới là mới, lạ, phương đông và phương tây, hòa quyện tạo nên một trào lưu thơ với những tác phẩm, nhà thơ tiêu biểu. Xen lẫn vào vì nó có rất nhiều cái mới và lạ. Và “buồn” từ thế giới thời ấy và từ tâm sự của những nhà thơ mới, những họ nhạy cảm, với chính mình và với xã hội đương thời – bàng quan, thờ ơ. Đó là lý do tại sao chúng ta có thể nói “Tràng Giang”Mang âm hưởng sâu sắc của thời đại mà anh sinh ra vì nó diễn tả nỗi buồn của cả một thời đại.

Mở đầu bài thơ một nỗi buồn dày đặc như muốn hướng đến cảm xúc chủ đạo của bài thơ:

Sóng lăn tăn mang thông điệp buồn,

Con thuyền xuôi dòng nước song song.

Thuyền về phố nhức nhối hàng trăm con phố;

Cành củi khô nằm cách vài dòng.

Cái hay nhất của câu thơ này là vần. Nhà thơ đã viết “Tràng Giang”Thay cho“ sông dài ”vì vần“ ang ”tạo cảm giác dài ra cả về không gian và thời gian, nhằm thể hiện trọn vẹn hình ảnh sông dài, rộng tạo cảm giác buồn man mác. , “tin nhắn buồn” – nỗi buồn không thể dứt ra được. Nhà thơ chỉ chọn một vài hình ảnh để tả dòng sông. Đó là sóng, thuyền và củi. Các hình ảnh tự nổi bật để thể hiện mức độ cao nhất của sự cô đơn. Thuyền và nước chia lìa, khúc gỗ lạc trôi tự bao giờ. Nhà thơ dùng những tính từ để miêu tả nỗi cô đơn: “buồn trăm ngả”, “lạc lõng” một cách rất thông minh và sáng tạo. Bốn bài thơ “Tràng Giang“Thi nhân có nét cổ điển như thơ xưa: thi nhân thường ẩn mình sau mênh mông sóng nước, khác với thi nhân mới thường phô bày cái tôi của mình. Nhưng nếu các thi nhân xưa tìm đến thiên nhiên để mong hòa nhập, giao cảm thì Huy đã suýt quay với thiên nhiên để bày tỏ nỗi lo lắng, buồn tủi cho kiếp người nhỏ bé, cô đơn trước vũ trụ bao la, Hàn Mặc Tử cũng đã từng có những dòng tâm sự như thế này:

Xem Thêm  Đặc sản miền Tây – 28 món ăn làm “xiêu lòng” tín đồ ẩm thực | GDGKYT

Gió theo gió, mây theo mây.

Nước buồn, hoa ngô đồng dối trá.

Thuyền ai cập bến sông trăng.

Đêm nay anh có tiếp tục chở trăng không?

Đặc biệt, việc sử dụng phép đảo ngữ khi xếp từ “một” vào sau hình ảnh gánh củi càng làm tăng thêm nỗi buồn của lòng người. Nó nhấn mạnh sự khô héo vô hồn của thiên nhiên. Có thể nói, đây là cảm hứng chung của thời đại, khi nhà thơ như bị “bắt gặp” trước hàng trăm con phố:

Tôi là một con nai bị mắc vào lưới,

Không biết đi đâu, ở trong bóng tối

Nhưng mà “Tràng Giang”là bài thơ thể hiện rõ nét nhất nỗi buồn thời đại ấy.

Tràng giang là bài vọng cổ thể hiện rất rõ phong cách nghệ thuật của Huy Cận

Câu thơ thứ hai tiếp tục cảm xúc đó:

Cơn gió nhỏ và du dương,

Còn đâu tiếng ồn làng vắng chợ chiều.

Mặt trời đã lặn, bầu trời thăm thẳm;

Bài ca dài, trời rộng, bến vắng.

Trong câu thơ này có những dấu hiệu của cuộc sống “chợ chiều”, nhưng chỉ thoáng qua. Những hình ảnh “hồn nhỏ”, “làng xa”, “sông dài”, “trời rộng” gợi tả không gian mở rộng về cái tuyệt đối. Nhịp thơ vẫn vô cùng chậm rãi thể hiện tâm trạng chán chường của tác giả. Huy Cận đã khéo léo sử dụng hai từ trong cùng một câu thơ để miêu tả cảnh hoang vắng, vắng vẻ ở hai bên sông: “Nghèo” – khan hiếm, thưa thớt, “vô chủ” – vắng lặng, ít ỏi. Trên “cồn nhỏ” gió thoảng dao động không khí u buồn, ảm đạm của một nơi vắng vẻ, thiếu sức sống. Anh u sầu đến nỗi không nghe thấy tiếng ồn ào của chợ chiều. “Ở đâu” diễn tả cảm giác mơ hồ, không xác định được điểm tựa để níu kéo.

Tràng Giang của Huy Cận - Tiếng vọng thời đại

Đỉnh cao của từ thể hiện ở từ “sâu xối xả”, tính từ cao chót vót là từ dùng để chỉ độ cao bên cạnh tính từ “sâu”. Chính sự sáng tạo ấy đã mở ra một không gian sâu lắng, mà ở đó, ngay cả chính trái tim của anh cũng đang bị hụt hẫng và bị tắc nghẽn. Các cặp từ đối lập “mặt trời” – “trời trên”, “sông dài” – “trời rộng” gợi tả sự chuyển động của cảnh, đồng thời giúp vẽ cảnh đa chiều, đa chiều. Câu thơ vẽ lên một hình ảnh vô hồn, lạc lõng và cô đơn giữa thiên nhiên rộng lớn. Hoài Thanh – tác giả Thi nhân Việt Nam – đã viết: “Đời ta ở trong vòng ta, mất bề rộng thì tìm sâu. Nhưng càng vào sâu, trời càng lạnh …” Điều này được thể hiện rất rõ trong bài thơ “Tràng giang”.

Xem Thêm  REVIEW KHU NGHỈ DƯỠNG ĐẲNG CẤP ALMA RESORT CAM RANH | GDGKYT

Nỗi buồn trong “Tràng Giang“Đó không phải là nỗi buồn cá nhân mà là nỗi đau của cả một thế hệ, nỗi u uất của thời đại khi thấy mình bơ vơ, không lối thoát:

Trôi đến đâu, hết hàng này đến hàng khác;

Bao la mà không có một chuyến phà nào qua.

Không đòi hỏi sự thân mật,

Lặng lẽ bờ xanh gặp bãi vàng.

Nhà thơ lại nhìn dòng sông, nhìn cảnh vật xung quanh, khao khát một điều gì đó thân thuộc sẽ mang lại hơi ấm cho tâm hồn đang chìm trong giá lạnh, trên nỗi cô đơn. Nhưng thiên nhiên đã đáp lại khát vọng ấy bằng những hình ảnh ngày càng cô đơn, lẻ loi. Hình ảnh cánh bèo là một hình ảnh kinh điển của thơ ca Việt Nam, thường thể hiện sự bơ vơ. Những cánh bèo của Huy Cận không xuất hiện với số lượng ít mà xuất hiện “hết hàng này đến hàng khác”, nhưng bản thân hình ảnh chỉ toàn là những cánh bèo tạo cảm giác buồn chán, bấp bênh trong cuộc sống. Sông không có thuyền, không có cầu. Cây cầu và con thuyền là những hình ảnh giống như một sự kết nối, nhưng nhà thơ loại bỏ chúng hoàn toàn, như thể chính nhà thơ bị tách ra khỏi thế giới con người, hoặc suy nghĩ của nhà thơ không tìm được sự kết nối, đồng điệu với mọi người nên đành gửi gắm của mình. tâm trí với thiên nhiên rộng lớn. Với khổ thơ cuối, tác giả sử dụng nhiều màu sắc để làm nổi bật hình ảnh. “Bãi xanh gặp bãi vàng” – bức tranh tươi sáng, gợi nhiều cảm xúc nhưng lại kèm theo từ “lặng lẽ” làm chìm màu này. Lúc này hai hình ảnh này không còn tươi như màu ban đầu nữa. Từ đó cũng làm cho không khí hôi thối “lây lan” từ đồ vật này sang đồ vật khác. Tất cả mọi thứ đều chìm trong cô độc. Nỗi buồn trên đời làm nảy sinh tâm lý về sự vô tri của kiếp người. Suy nghĩ hư vô nảy sinh, người ta thấy không có gì là bền vững, không có gì có ý nghĩa:

Xem Thêm  Du lịch Quế Phong - Một “Đà Lạt mộng mơ” của miền Trung | GDGKYT

Ôi trời, hôm nay tôi chán quá

Màu sắc và hình ảnh của thế giới

Đây là nỗi lòng của Huy Cận, một nhà thơ hoang mang.

Ở câu thơ cuối, cảnh còn u ám, ảm đạm:

Những lớp mây cao đùn lên những ngọn núi bạc,

Cánh chim nhỏ: bóng xế chiều.

Trái tim của đất nước căng tràn sức sống,

Không khói hoàng hôn dù nhớ nhà.

Từ “lớp” thể hiện sự lặp lại, vừa gợi tả cảnh thiên nhiên mây trời, núi non, vừa là sự buồn tẻ, buồn tẻ trong tâm hồn người nghệ sĩ. Cánh chim nghiêng chiều hoàng hôn trên vạn vật, dấu hai chấm tượng trưng cho bước nhảy vọt của thời gian. Nhà thơ đã có cái nhìn rất tinh tế khi miêu tả thiên nhiên kỳ vĩ, hùng vĩ, đẹp đẽ và thơ mộng. Từng tầng mây nhẹ nhàng bay đi giờ tạo thành những ngọn núi lớn đẹp đẽ, mỗi tầng mây đều mang sức mạnh bên trong, mang đến sự trường sinh bất tử. Hai dòng cuối bộc lộ tâm trạng của nhà thơ. Từ “trĩu nặng” diễn tả nỗi buồn cô đơn trào dâng trong lòng. Tất cả những cảm xúc dồn lại để mang đến cảm giác “nhớ nhà”. Bài thơ mượn ý thơ của Thôi Hiệu:

Quê hương trong bóng hoàng hôn

Khói sóng trên sông làm sầu lòng ai?

Để thể hiện trọn vẹn nỗi nhớ nhà của nhà thơ.

Tràng giang bài vọng cổ sầu., thể hiện rõ nét phong cách nghệ thuật của Huy Cận. Bài thơ mang đậm màu sắc cổ điển cũng như tấm lòng chân thành của nhà thơ đối với quê hương đất nước.

Bãi cỏ

.